Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân



Tuyệt phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du ghi lại dấu ấn sâu đậm trong nhân thế không chỉ vì mang những giá trị nhân đạo và xã hội sâu sắc mà còn mở ra trước mắt người đọc những bức tranh tả cảnh sinh động, cuốn hút. Nhắc đến những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút, đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một ví dụ tiêu biểu cho thấy biệt tài vẽ tranh bằng chữ của đại thi hào Nguyễn Du. Với đoạn trích này, nhà thơ đã khắc họa nên một bức tranh về khung cảnh ngày xuân với những nét đẹp vô cùng tươi mới và tràn đầy sức sống.
 “Cảnh ngày xuân” xuất hiện ngay sau phần giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại và những dòng viết gợi tả về nhan sắc và tài năng của chị em Thúy Kiều. Đoạn trích tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Thúy Kiều cũng hòa vào dòng người du xuân. Đoạn trích Cảnh ngày xuân trong truyện Kiều của Nguyễn Du giúp ta thấy được ngòi bút tài hoa của đại thi hào khi miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Tác giả dựng lên Khung cảnh ngày xuân với những đường nét thanh tao, bức tranh sinh hoạt của con người trong tiết thanh minh cùng với khung cảnh một buổi chiều tàn được tái hiện tinh tế và có hồn trong bức tranh thiên nhiên ngày xuân. Bức tranh xuân hài hòa đậm xúc cảm của chị em Kiều. Qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm và đầy tinh tế của những con người trẻ tuổi mà ở đây là Thúy Kiều.
Bốn câu thơ đầu mở ra một khung cảnh hữu sắc, hữu hương, hữu tình nên thơ.
“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”
Thi nhân không chỉ gợi tả thời gian ngày xuân mà còn gợi tả cả không gian bừng sáng trong khí trời thanh tân những ngày đầu năm mới.
“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Hai câu thơ vừa khắc họa nhịp đi của thời gian, vừa gợi ra hình ảnh của không gian. Giữa bầu trời bao la, mênh mông, xanh thẳm có những cánh én nhỏ đang chao nghiêng, chao đi chao lại trông như những con thoi trên tấm vải khổng lồ. Thời điểm vào xuân được diễn tả qua hình ảnh chim én đặc trưng cho mùa xuân. Cánh én chao nghiêng “đưa thoi” gợi lên hình ảnh thời gian trôi đi rất nhanh. Dân gian ta có câu: “thời gian thấm thoắt thoi đưa như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu”. Câu thành ngữ ấy đã nhập vào hồn thơ của Tố Như để tạo ra một cánh én đưa thoi ở ngay chính câu thơ đầu của đoạn trích. Cùng với thời gian đưa thoi là ánh sáng đẹp của mùa xuân, ánh thiều quang đã ngoài sáu mươi ngày. Bằng lời thơ gợi tả cùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh “con én đưa thoi” đã gợi ra sự nuối tiếc của con người vì cái đẹp ấy sắp qua khiến lòng người bâng khuâng, lưu luyến, muốn níu kéo mong cho đất trời mãi còn xuân. Mới ngày nào vạn vật rộn ràng bước vào xuân mà giờ đây hai phần ba thời gian đã trôi qua và tiết Thanh minh đã đến rồi.  Nhưng trong tiết trời tháng ba ấm áp và trong trẻo ấy có một màu xanh mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non, trải dài, trải rộng như một tấm thảm khổng lồ kéo đến tận chân trời.
Bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, trong trẻo, tinh khôi tràn đầy sức sống của mùa xuân hiện lên qua bút pháp miêu tả tài tình của nhà thơ:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”
Bằng vài nét chấm phá, nghệ thuật miêu tả tài tình, kết hợp với các hình ảnh đặc sắc “cỏ non xanh, lê trắng”, từ ngữ chọn lọc “điểm”, Nguyễn Du đã mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi sáng, đẹp đẽ và sinh động vô cùng. Ngòi bút của Nguyễn Du đã vẽ nên một thảm cỏ xanh tràn đầy sức sống trải ra đến tận chân trời. Với vai trò là tấm phông nền cho bức tranh xuân nhưng thảm cỏ ấy không khiến cho bức tranh trở nên đơn điệu vì khi xuất hiện cùng với những bông hoa lê trắng thì nó là một sự hài hòa đến mức tuyệt diệu về màu sắc. Tất cả những hình ảnh đó đã góp phần làm bừng lên sự mới mẻ, tinh khôi giàu sức sống của “cỏ non”. Đó còn là sự khoáng đạt, trong trẻo vì “xanh tận chân trời”, hay sự nhẹ nhàng, thanh khiết khi có “một vài bông hoa” trắng điểm. Chính từ “điểm” xuất hiện đầy nghệ thuật ấy đã khiến cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không hề tĩnh tại. Hai câu thơ về cỏ và hoa ấy của đại thi hào khiến người đọc dễ liên tưởng đến câu thơ cổ xưa nổi tiếng: “Phương thảo liên thiên bích” – “Lê chi sổ điểm hoa” (dịch nghĩa: “Cỏ xanh liền với trời xanh” – “Trên cành lê lấm tấm vài bông hoa”). Nguyễn Du cũng mượn cỏ xanh và hoa lê để tả cảnh xuân và một điều đặc biệt là bông hoa lê trắng ấy cũng được nhà thơ dùng để tả Kiều ở câu thơ: “Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa” hay câu thơ: “Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần”. Nhắc hoa nhưng có lẽ phần nhiều là hướng về con người. Việc chọn hoa lê để tả Kiều như vậy phải chăng là ẩn ý cho sự ca ngợi về nét trinh trắng, cao quý của Thúy Vân và Thúy Kiều vì một lẽ “hoa lê như tĩnh nữ” (“Hoa lê như cô gái trinh bạch”).
Chính vì cách khắc họa một bức tranh xuân với những đường nét tinh tế, cuốn hút ấy mà khung cảnh tiết xuân do Nguyễn Du tạo tác đã được rất nhiều những lời khen ngợi từ các học giả. Vũ Trinh, Nguyễn Lượng (thế kỉ XIX) đã từng nhận xét đó là bức tranh “Tả xuất Thanh minh cảnh sắc như hoa” (nghĩa là “Tả rõ cảnh sắc thanh minh như vẽ”). Còn Chu Mạnh Trinh thì bình rằng “mùa xuân ai khéo vẽ nên tranh”. Đó quả thật là những lời phẩm bình rất đúng đắn.
Tiếp nối những dòng viết về khung cảnh ngày xuân là những câu thơ khắc họa bức tranh sinh hoạt của con người trong tiết Thanh minh. Trong những ngày diễn ra tiết Thanh minh ấy đã có hai hoạt động cùng một lúc diễn ra:
“Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.”
Nguyễn Du đã đưa chúng ta trở về lễ hội tưng bừng của người dân Việt Nam, lễ hội mang nét đẹp truyền thống của dân tộc. Lễ tảo mộ là lễ của những người còn sống đi quét dọn, thắp hương, sửa sang phần mộ cho những người đã mất để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, nhớ thương của người ở lại với người đã ra đi, của con cháu với tổ tiên. Việc làm đó thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, đây chính là lễ giáo văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta. Bên cạnh “lễ tảo mộ” là “hội đạp thanh”, là cuộc du xuân, cuộc vui chơi trên đồng cỏ xanh của những trai tài gái sắc, nam thanh nữ tú, “hội đạp thanh” còn là cơ hội gặp gỡ tạo nên sợi tơ hồng để thành duyên đôi lứa mai sau.
Không khí lễ hội ấy được tái hiện cụ thể, rõ ràng hơn khi có sự hiện diện của con người:
“Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.”


Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã gợi ra không khí lễ hội bằng một loạt từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm như từ láy “nô nức”, “dập dìu”, “sắm sửa” và từ ghép, từ Hán-Việt” “tài tử”, “giai nhân”, “bộ hành”, “ngựa xe”, “gần xa”, “yến anh” kết hợp với các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh đã khắc họa thật sinh động, không khí lễ hội rộn ràng, đông vui, tưng bừng, náo nhiệt đang diễn ra ở khắp mọi miền đất nước. Trong dòng người nô nức đó có ba chị em Kiều cũng sắm sửa, hòa nhập vào cái đẹp, cái tưng bừng, rộn rã của tuổi trẻ. Hình ảnh so sánh thật giản dị “Ngựa xe như nước áo quần như nêm”, gợi tả không khí náo nức của lễ hội, từng đoàn người người đi chơi xuân trong bộ áo quần đẹp đẽ, tươi thắm màu sắc, họ như từng đàn chim én, chim oanh ríu rít bay về dự lễ hội mùa xuân. Cảnh chảy hội thật đông vui, náo nhiệt trên khắp nẻo đường “gần xa”, những dòng người cuồn cuộn đi trẩy hội, có biết bao “yến anh” đang nô nức, giục dã, chân nói nhịp bước trong dòng người tấp nập, đông vui, nhộn nhịp trên khắp các làng quê. Điều đó cho thấy những “tài tử giai nhân” đã chuẩn bị hết sức chu đáo mong ngóng ngày hội vui để được hưởng niềm hạnh phúc của tuổi trẻ trong tiết màu xuân đẹp đẽ. Chính những nam thanh nữ tú với tâm trạng đầy phấn khởi đã góp vào sự rộn ràng, tấp nập cho ngày hội mùa xuân. Họ có được nhau và cùng nhau tận hưởng một niềm khoái lạc tinh thần vừa quý phái vừa rất dỗi hồn nhiên. Đằng sau xiêm áo, ngựa xe là những sự rung động dầu đời cất cánh.
Thơ vốn là nghệ thuật của ngôn từ, các từ ghép “yến anh; chị em;tài tử, giai nhân; ngựa xe; áo quần” chính là  những danh từ và “gần xa; nô nức; sắm sửa; dập dìu” là động từ, tính từ được thi hào dân tộc sử dụng chọn lọc, tinh tế đã làm sống lại lễ hội mùa xuân.
Trong cảnh ngày hội vui tươi ấy, tác giả Nguyễn Du cũng đã có cơ hội khắc họa nên những hình ảnh thuộc về đời sống tâm linh của con người:
“Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”
Hình ảnh “gò đống” và hai sự việc rắc “thoi vàng vó” và “tro tiền giấy bay” đã gợi nên không khí lễ. Với nhịp thơ 2/4 và 4/4, giọng thơ trầm xuống thoáng hiện ra một nét buồn cho thấy cõi âm và cõi dương, người sống và người chết, hiện tại và quá khứ đồng hiện trên những gò đống ngổn ngang trong “lễ tảo mộ”, cái tâm thì thánh thiện, niềm tin thì phác thực, dân gian đầy ắp nghĩa tình. Các tài tử giai nhân, chị em Kiều không chỉ cầu nguyện cho riêng mình cầu nguyện cho những vong linh mà còn gửi gắm biết bao niềm tin, ước vọng về một tương lai hạnh phúc.
Như vậy, bằng những câu thơ khắc họa cảnh du xuân của hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều, nhà thơ đã tái hiện một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. Nguyễn Du đã rất tài tình khi tách hai từ Lễ hội ra làm đôi để gợi tả hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: Lễ tảo mộ, Hội đạp thanh. “Lễ” là hồi ức và tưởng niệm quá khứ theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “hội” là khát khao và hoài vọng nhìn về phía trước của cuộc đời. Lễ và hội trong tiết Thanh minh là một sự giao hoà độc đáo. Chứng tỏ nhà thơ rất yêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hoá dân tộc.
Sau khi khắc họa khung cảnh ngày xuân với những đường nét thanh tao và bức tranh sinh hoạt của con người trong tiết Thanh minh, Nguyễn Du đã dùng những dòng thơ cuối của đoạn trích để miêu tả cảnh chị em Kiều du xuân trở về trong cảnh chiều tà. Những câu thơ đã làm hiện lên cảnh chiều ta đầy sâu lắng pha lẫn cái buồn man mác, nhè nhẹ như chất chứa trong đó sự tiếc nuối:
“Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”
Mặt trời đã “tà tà” xuống núi, ngày hội vui đã qua rất nhanh, chị em Kiều “thơ thẩn dan tay ra về”. "Dan tay" tưởng là vui, nhưng thực ra là sự đồng cảm sẻ chia cái buồn không biết nói. Hội đã tan, lòng người buồn lưu luyến. Nhịp thơ chậm rãi, tâm tình đến “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì bước dần, tất cả để lại một nỗi lòng man mác, bâng khuâng, lần xem với mọi cảnh vật như tiếc nuối ngày vui mau qua. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, cảnh vật hiện lên vẫn đẹp nhưng đã không còn tươi sáng như lúc đầu ngày. Cái tài miêu tả của Nguyễn Du khiến không khí lễ hội lúc tan ảm đạm, buồn bã mà có phần thanh dịu, lặng lẽ, mơ mộng, không gian thu hẹp lại, thời gian trôi chậm hơn, cảnh vật như nhạt dần, lặng lẽ theo bước chân “thơ thẩn” trên dặm đường về, phảng phất nỗi tiếc nuối, lưu luyến của lòng người.
Mọi chuyển động nhẹ nhàng đều thể hiện qua tâm trạng giai nhân đa sầu đa cảm. Nếu như con người đang “bước dần”“lần xem” trong quyến luyến thì hòa điệu cùng với nỗi niềm ấy của con người, phong cảnh cũng trở nên “thanh thanh”, trong sáng. Dòng nước nho nhỏ cũng cùng con người mà chậm rãi theo, nó không hề vội vã mà “nao nao” uốn lượn như giúp con người níu kéo điều gì đó. Nhịp cầu phía xa vốn nhỏ mở lối đi cho con người nay cũng như thu lại để níu lại từng khoảnh khắc của con người với cảnh vật chốn này. Không gian và thời gian chiều tà hội tàn, cảnh vật cũng bâng khuâng và lưu luyến cùng con người trong màu áo man mác buồn. Hàng loạt từ láy “tà tà”, “thanh thanh” và “nao nao” cho thấy tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du. Thông qua những từ ngữ ấy, Nguyễn Du không chỉ nhằm mục đích làm nổi bật sắc thái của cảnh vật mà còn thể hiện tâm trạng của con người. Cảnh chiều đẹp nhưng buồn còn tâm tình của giai nhân thì cứ man mác, bâng khuâng, nuối tiếc ngày hội vui đã tàn. Tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến từ dư âm ngày vui xuân dường như đã dự báo, linh cảm về điều sắp xảy ra trong tâm hồn nhạy cảm của Thúy Kiều.
Thông qua việc kết hợp kể, tả và gợi, nhà thơ không chỉ phác họa bức tranh cảnh vật mà còn khắc họa ít nhiều bức tranh tâm cảnh. Nguyễn Du nói đến mùa xuân, nói đến không khí lễ hội và đồng thời cũng đã gợi lên tinh thần, tâm trạng bịn rịn, tiếc nuối, thơ thẩn, nao nao của con người khi tham gia lễ hội ấy. Nội dung ấy đã được chuyển tải thành công còn nhờ vào nghệ thuật sử dụng từ ngữ (đặc biệt là từ láy) và cách xây dựng bố cục ba phần rõ rệt với cao trào là không khí tấp nập của ngày hội.
Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” đã phần nào cho thấy tài năng của Nguyễn Du trong những phân đoạn tả cảnh. Tuy nhiên, cách tả cảnh của Nguyễn Du không đơn thuần chỉ khắc họa đường nét, màu sắc, hình ảnh của cảnh vật mà thông qua đó, nhà thơ luôn khéo léo gửi gắm những tâm tư, nỗi niềm của con người.



Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều



Từ xưa, ông cha ta vẫn thường thể hiện sự đề cao phẩm hạnh hơn là việc coi trọng nhan sắc của người phụ nữ. Điều đó đã được thể hiện qua câu tục ngữ quen thuộc: “Cái nết đánh chết cái đẹp” và cũng được nhắc đến trong ca dao: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” – “Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”. Quan niệm đó của người xưa cho thấy sự ưu ái dành cho những cái đẹp thuộc về tâm hồn, tính cách hơn là những vẻ đẹp về ngoại hình. Thế nhưng, phải chăng là sẽ hoàn hảo hơn nếu ở người phụ nữ có sự hội tụ cả về những nét đẹp về phẩm chất và đức hạnh? Cách nhìn mới mẻ ấy đã được chính Nguyễn Du khai phá và thể hiện khi miêu tả hai chị em Thúy Kiều trong tuyệt tác “Truyện Kiều” và đặc biệt là trong những dòng thơ của đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”.
Đoạn trích nằm ngay ở phần đầu của tác phẩm “Truyện Kiều”. Đoạn trích gồm có hai mươi bốn câu thơ, cụ thể là từ câu 15 đến câu thứ 38 của tác phẩm. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” có kết cấu gồm bốn phần. Ở mỗi phần ông đã dành những lời văn trang trọng để nói về bức chân dung của Kiều và Vân. Giữa hai chị em bên cạnh những nét chung còn mang những nét đẹp riêng. Nét đẹp ấy còn dự báo trước được cuộc đời của chị em Kiều. Bức chân dung và cuộc sống của chị em Kiều hiện lên thật sinh động và cụ thể.
Nguyễn Du đã có bốn cậu thơ đầu đầy ấn tượng phác họa những nét vẽ ban đầu trong bức chân dung về vẻ đẹp của hai chị em Nguyễn Du:
“Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”
Bằng cách giới thiệu hai “ả tố nga” vừa ngắn gọn vừa giản dị hết sức ấn tượng đầy đủ. Trong gia đình họ Vương có hai cô con gái đầu lòng đẹp như “Hằng Nga”.  Người chưa xuất hiện mà đường như bóng dáng đang thấp thoáng qua tấm màn mỏng gợi một vẻ đẹp bí ẩn chưa khám phá. Càng tò mò, ta càng muốn khám phá vẻ đẹp của hai ả tố nga và chỉ biết là tố nga tức người con gái đẹp nhưng chưa biết đẹp thế nào. Và họ xuất hiện trong nét đẹp vừa duyên dáng, thanh cao của “mai cốt cách” và sự trong sáng, tinh khôi tựa “tuyết tinh thần”.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Câu thơ được viết dựa trên bút pháp nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn học cổ. Thông qua việc sử dụng hình tượng thiên nhiên đẹp như mai, tuyết, tác giả đã gợi ra dáng dấp mảnh dẻ, thanh tao tựa đóa mai và sự trong trắng, tinh khiết như bông tuyết ở họ. Đó là một vẻ đẹp thanh tao, đài các, cao sang, lịch lãm của những người con gái vốn xuất thân trong những gia đình trung lưu khá giả, nề nếp, gia phong. Với những từ ngữ và hình ảnh có sức gợi ấy, nhà thơ dường như muốn người đọc có thể cảm được sự “mười phân vẹn mười” trong vẻ đẹp ở cả hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều.
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Nguyễn Du đã khắc họa được vẻ đẹp từ hình dáng cho đến tâm hồn của hai chị em Kiều. Viết theo những phép tắc sẵn cổ nhưng ông không viết lại y nguyên mà thêm vào đó những câu chữ chứa đựng cảm tình yêu mến, trân trọng. Lời khen được ông chia đều cho cả hai, cả hai không giống nhau, mỗi người một nét riêng nhưng nét nào cũng mười phân vẹn mười. Vẻ đẹp của hai chị em được coi là chuẩn mực của cái đẹp đương thời trong xã hội lúc bấy giờ.
Những câu thơ tiếp theo trong đoạn trích, Nguyễn Du vẽ ra trước mắt người đọc bức chân dung tuyệt mĩ của Thúy Vân. Nàng xuất hiện với những nét đẹp rất phúc hậu và quý phái:
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”
Chỉ với bốn dòng thơ nhưng đủ gợi tả một vẻ đẹp của một cô gái đang độ tuổi trăng rằm. Đó là sự “trang trọng khác vời” với nét cao sang, quý phái. Vẫn với việc sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ, vẻ đẹp của Thúy Vân đã được nhà thơ so sánh qua những hình tượng cao đẹp của thiên nhiên. Ta ngây ngất trước vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho Thuý Vân. Ông tả Thuý Vân bằng những hình ảnh rất cụ thể. Về gương mặt của nàng, tác giả dùng từ “đầy đặn”, nhắc đến dáng mày, tác giả dùng từ “nở nang”. Đây đều là những từ có sức gợi về sự viên mãn, phúc hậu và đủ đầy. Còn khi nói về tiếng cười, giọng nói của Vân, nhà thơ đem đối sánh với vẻ tươi tắn của đóa hoa và sự đoan trang của viên ngọc để làm cho bức chân dung về Vân thêm hoàn thiện, tạo nên sự tương ứng giữa chân dung ngoại hình với nụ cười, lời nói. Không những thế, Vân còn nổi bật với mái tóc bồng bềnh, óng ánh khiến mây phải chào thua và làn da tươi sáng, mịn màng khiến tuyết cũng nhường bước. Trong cách miêu tả Thúy Vân, tác giả đã dụng công liệt kê để cụ thể hóa những đặc điểm về nhân vật như: khuôn mặt, lông mày, nụ cười, lời nói, mái tóc, làn da… Với mỗi một đặc điểm, nhà thơ lại sử dụng đi kèm với hình ảnh so sánh ẩn dụ: khuôn mặt giống như sự tròn trịa, đầy đặn của vầng trăng trời; lông mày sắc sảo, đậm nét như con ngài; nụ cười tươi tắn không khác gì đóa hoa tươi; giọng nói thanh thoát, trong trẻo thốt lên từ hàm răng ngà ngọc duyên dáng. Mái tóc của nàng thì óng mượt, bồng bềnh hơn mây còn làn da thì tươi tắn, sáng người hơn cả tuyết… Cách khắc họa vẻ đẹp nhân vật rất tỉ mỉ, tinh tế đó của nhà thơ đến cuối cùng đã làm nổi bật nên ở nàng một vẻ đẹp phúc hậu và quý phái. Từng đường nét, đặc điểm của tướng mạo Thúy Vân làm toát lên sự phúc hậu về sau trong cuộc đời của nàng. Nói như vậy vì qua từ ngữ miêu tả, vẻ đẹp của Vân thường có sự êm đềm, hòa hợp với xung quanh, nó khiến cho “mây thua”, “tuyết nhường”. Phép ẩn dụ và nhân hoá được sử dụng hết sức thành công trong bốn dòng thơ miêu tả Thuý Vân. Tác giả mang hết mọi vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi nhất trong thiên nhiên như trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc để so sánh vẻ đẹp quí phái, cao sang của nàng, vẻ đẹp của Thuý Vân còn hơn cả những cái tinh khôi nhất của thiên nhiên và thiên nhiên bị khuất phục trước vẻ đẹp của nàng. Vì lẽ đó nên nó dự báo sự suôn sẻ, bình lặng mà nàng sẽ có được. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong phần kết thúc của “Truyện Kiều”, thật sự Vân đã được sống trong những tháng ngày vui vầy, hạnh phúc trong mái ấm của mình:
“Một nhà phúc lộc gồm hai,
Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hòe.
Phong lưu phú quý ai bì,
Vườn xuân để cửa, để bia muôn đời.”
Sau khi khắc họa bức chân dung của Thúy Vân, Nguyễn Du đã dành những câu thơ tiếp theo để gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều. Cũng như khi tả Vân, ở câu thơ đầu của đoạn này, nhà thơ dùng để khái quát đặc điểm của nhân vật và sau đó là những nét vẽ cụ thể hơn về chân dung người con gái này:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn”

Trong cách giới thiệu của nhà thơ, Nguyễn Du đã cho thấy những điểm nổi trội của Kiều so với Vân. Đến đây ta mới hiểu rõ tại sao Thuý Vân được Nguyễn Du tả trước Thuý Kiều. Nguyễn Du muốn tả Thuý Vân trước để làm nền rồi so sánh với Thuý Kiều, qua đó thấy rõ sự nổi trội của Thuý Kiều. Đó là nghệ thuật đòn bẩy. Lúc đầu ta cứ ngỡ không ai có thể đẹp bằng Thuý Vân bởi bức chân dung Thuý Vân đã tuyệt hảo, hoàn mĩ. Nhưng không ngờ Vân đã đẹp nhưng Kiều lại “càng sắc sảo mặn mà” và có “phần hơn” ở tài lẫn sắc. Các từ càng, phần hơn đã cho thấy Thuý Kiều hơn Thuý Vân, nổi trội hơn Thuý Vân cả về tài lẫn sắc. Như thế ta thấy rõ sự khác nhau giữa hai vẻ đẹp: một người đoan trang, ưa nhìn và đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, còn một người lại sắc sảo mặn mà khiến cho người ta phải “nhìn càng đắm, ngắm càng say”.
Về nhan sắc, vẻ đẹp của Kiều khiến cho tạo vật phải sinh lòng đố kị, ganh ghét:
“Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.”
Khi nói về vẻ đẹp của Thúy Kiều, Nguyễn Du chỉ thể hiện qua việc đặc tả đôi mắt: “Làn thu thủy, nét xuân sơn”. Nhưng chính ánh mắt đẹp, trong sáng như mùa thu cùng với đôi mày thanh thoát, đầy sức sống như nét núi mùa xuân lại làm bừng sáng lên nét đẹp mà Kiều sở hữu. Đó là nét đẹp của một giai nhân tuyệt thế.  Chỉ bằng sự ngời sáng của đôi mắt, bao nhiêu cái “sắc sảo” của trí tuệ, bao nhiêu cái “mặn mà” của tâm hồn đều toát lên thật lung linh, rạng rỡ… Thật sự, ánh mắt trong sáng, linh hoạt như sự sống động, long lanh của “làn thu thủy” cộng thêm sự thanh tú, phơi phới của khí xuân của đường nét đôi lông mày đã cho thấy ngòi bút tài tình của nhà thơ trong việc sử dụng biện pháp ước lệ khi miêu tả nhân vật. Từ đôi mắt xanh trong ấy, ta cảm nhận Kiều đang dạt dào sức sống thanh xuân và còn thấy được, độ sâu thẳm trong tâm hồn nàng.
Nếu vẻ đẹp “trang trọng khác vời” của Vân chỉ làm cho “mây thua”, “tuyết nhường” thì cái sắc của Kiều lại khiến cho “liễu hờn”, “hoa ghen”. Hoa và liễu vốn là những loài thuộc thế giới tự nhiên, vô tri vô giác nhưng đứng trước nét đẹp của Kiều chúng cũng sinh lòng ghét hờn. Đọc câu thơ này ta thấy hơi rùng mình. Những từ “ghen, hờn” được tác giả nhân hoá để dùng cho hoa và liễu là những loài đẹp nhất, dịu dàng, tươi thắm nhất thế mà phải thua Thuý Kiều. Chúng đố kị, ghen ghét với nàng. Mượn cây lá thiên nhiên, Nguyễn Du muốn dự báo và suy ngẫm về tương lai, cuộc đời Thuý Kiều: “Một vừa hai phải ai ơi. Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” (ca dao). Đây được xem như là một qui luật, định mệnh khắc nghiệt với con người, đặc biệt là người phụ nữ.
Vẻ đẹp của Thuý Kiều không thể tả rõ được, chỉ có thể hình dung. Đó là một tuyệt thế giai nhân.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành.
Sắc đẹp đó có thể khiến người ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước.
Nàng Kiều của Nguyễn Du không chỉ rạng rỡ về nhan sắc mà còn hội tụ cả sắc lẫn tài thông qua câu:
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai
Nguyễn Du không ngần ngại ngợi ca Thúy Kiều là một người thiếu nữ đẹp tuyệt trần, cũng không những thế đâu mà tài năng của Thúy Kiều như thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi trên đời này phải chăng không có người thứ hai sánh bằng Thúy Kiều được. Nàng Kiều có tài năng đạt đến sự lí tưởng:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.”
Với sáu câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã có thể giải thích ý tài đành hoạ hai. Đã vốn được trời ban cho một trí tuệ thông minh, sáng suốt lại có ý chí học hỏi, luyện tập thì tất nhiên là khó có người vượt qua nổi. Cái tài của Kiều được miêu tả trong sự hoàn hảo về cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ) và họa (vẽ). Nàng đặc biệt nổi trội về “cầm”.
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Có thể soạn được riêng cho mình một bản nhạc “bạc mệnh” là một bằng chứng cho cái tài về đàn ca đó của Kiều. Ở xã hội phong kiến, nơi mà người phụ nữ không có cơ hội thể hiện trí tuệ của mình, thế mà Thuý Kiều lại thể hiện được, đó là chuyện hiếm có vô cùng. Tài đàn có sức chinh phục tuyệt đối của Kiều dựa trên sự rung cảm có tính sáng tạo của người nghệ sĩ Cái khúc nhạc bạc mệnh mà Kiều tạo ra khiến ai nghe đều não lòng, sầu khổ.
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
Cung đàn được vang lên bởi một người thiếu nữ dường như đa sầu đa cảm. Nó càng thể hiện sự hoà hợp giữa tâm hồn nàng và âm nhạc, một tâm hồn đa cảm và những khúc nhạc buồn. Khúc nhạc “Bạc mệnh” nàng dạo mang lại sự não nề trong lòng người khiến cho người ta có dự cảm về những muộn phiền, âu sầu mà Kiều sẽ gặp phải trên đường đời.
Vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” Kiều có mang lại sự hờn ghét vốn đã tiềm ẩn những bất hạnh có thể xảy ra và khi đến với thơ ca như một sự giãi bày nỗi niềm, tâm trạng, Kiều cũng lại chọn giai điệu nghe buồn bã, nao nao càng làm cho những dự báo về sự bạc mệnh thêm rõ ràng. Tuy nhiên, thông qua cách Nguyễn Du khắc họa bức chân dung về Thúy Kiều, ông đã cho thấy sự trân trọng, ca ngợi của mình dành cho nhân vật.  Nàng không chỉ mang những vẻ đẹp nổi bật về phương diện ngoại hình mà còn là người hoàn hảo khi có cả tài năng và tâm hồn nhạy cảm.
Khi đã hoàn thiện những nét vẽ về bức chân dung hai chị em, Nguyễn Du còn cho thấy cách sống nề nếp, mực thước của cả hai người trong những câu thơ cuối:
“Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”
Hai nàng xuất thân từ một gia đình quyền quý nhưng dù sống phong lưu nhưng cả hai đều biết giữ sự khuôn phép, gia giáo của gia đình đặc biệt là khi đã “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”, nếp sống tốt đẹp ấy vẫn được hai chị em một mực tuân theo. Vẻ đẹp ấy như một thứ trái cây chín ngọt, độ tuổi tươi đẹp nhất của người con gái. Điều này đã làm cho vẻ đẹp của hai chị em thêm phần hoàn hảo và giúp cho người đọc càng thêm trân trọng và mến yêu họ bởi những giá trị đáng quý ấy.
Bằng cả tài và tâm của mình, đại thi hào Nguyễn Du thật tài tình khi đã khắc họa chân dung hai nhận vật một cách sống động và sắc nét. Nguyễn Du đã diễn tả được sự hoàn mĩ trong nhan sắc và cốt cách của Thuý Kiều, Thuý Vân. Cả vẻ đẹp lẫn tài năng nhân vật, tuy được vẽ ra rất khéo, bút pháp đa dạng (mỗi nhân vật có một cách vệ riêng) nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của nghệ thuật và tư tưởng thời trung đại, với những đường nét ước lệ, cao quý. Nguyễn Du không những thành công trong việc khắc họa chân dung mà còn thông qua đó cũng lại nói lên những dự cảm về số phận của hai chị em. Đặc biệt bức chân dung của Thúy Kiều chính là một chân dung mang tính chất số phận hội tụ đủ các yếu tố như sắc, tài, tình, mệnh.
Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” đã phần nào cho thấy sự biểu hiện của cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du khi đã thể hiện thái độ trân trọng, đề cao những giá trị của người phụ nữ. Vẻ đẹp về nhan sắc, phẩm hạnh và tài năng của họ thông qua cách thể hiện của Nguyễn Du đã giúp họ trở thành những hình tượng lí tưởng và hoàn hảo trong trái tim người đọc bao thế hệ.

Cảm nhận về nhân vật ông Hai



 “Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều…” (Quê hương – Đỗ Trung Quân)
Từ rất lâu, “quê hương” đã trở thành tiếng gọi thân thương. Đó là đề tài lớn, vượt cả không gian lẫn thời gian để đến với bao triệu tâm hồn yêu văn chương. Quê hương ấp ủ những hình ảnh gắn liền với tuổi thơ đầy ước vọng: là cánh diều no gió vươn cao, là biển lúa vàng óng ánh, là mái đình rêu phong, là hồ sen thơm ngát buổi trưa hè. Khi viết về tình yêu làng xóm, quê hương, nền văn học đương đại cũng không thể nào không nhắc đến Kim Lân – một nhà văn trọn đời gắn tâm hồn chân tình và mộc mạc của mình với làng quê. Tâm hồn ấy được thể hiện sâu sắc qua nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của tác giả.
Kim Lân có một vốn sống cũng như trải nghiệm chân thật đối với nếp sinh hoạt vùng nông thôn, xứng đáng là một cây bút độc đáo về đề tài làng quê Việt Nam. Từng trang viết của nhà văn như được sinh ra từ đồng ruộng đều cay xè mùi khói bếp, thơm thơm mùi lúa chín, ngai ngái cái nghèo đó của mùi rơm rạ hay bảng lảng những cánh cò chao nhịp trên đồng ruộng mênh mông. Điểm đặc biệt là ở các tác phẩm của ông đều kết thúc hướng về ánh sáng của Cách mạng nên không tăm tối như những nhà văn hiện thực đương thời.
Làng là một tác phẩm ra đời trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc về những thay đổi trong nhận thức và tình cảm của người nông dân. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là ông Hai – một người rất tự hào và yêu mến làng Chợ Dầu của mình. Do chiến tranh nên gia đình ông phải tản cư nhưng ông luôn mong ngóng tin tức về làng. Hình ảnh ông Hai đau khổ khi nghe tin làng theo giặc được miêu tả rất độc đáo. Cuối truyện, ông Hai vui mừng khi nghe tin cải chính rằng làng mình không theo giặc dù cho nhà ông bị đốt trong đám cháy ấy. Ở nhân vật này, ông Hai thể hiện nhận thức của mình, hơn cả là nhận thức chung của giai cấp nông dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Từ tình yêu làng da diết, nhân vật đã nâng lên thành tinh thần yêu nước mạnh mẽ, hi sinh tài sản riêng để giữ vững lòng trung với Tổ Quốc.
 Đến với Làng, người đọc nhận thấy trước hết, ông Hai đã cho thấy tình yêu làng da diết qua hành động khoe làng của mình. Trước Cách mạng tháng Tám, khi nhắc đến làng là ông Hai tự hào về cái “sinh phần” của viên tổng đốc làng ông, nó nguy nga, đồ sộ. Không những thế, ông còn khoe và hãnh diện với mọi người về: “con đường làng trải toàn là đá xanh. Trời mưa, trời gió bão, bùn đi không dính gót. Trong làng, nhà ngói san sát như trên tỉnh”. Sau cách mạng tháng Tám, khi khoe làng, ông còn nhắc đến những ngày cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá. Điều đó cho thấy rõ ràng trong ông Hai đã có sự thay đổi về nhận thức. Trước đây ông chỉ chú ý đến cái hào nhoáng, bóng bẩy bên ngoài thì giờ đây ông trân trọng những kỉ niệm khi cùng mọi người xây dựng cho làng. Từ hình ảnh khoe làng giàu và đẹp, ông đã thay đổi nhận thức của mình. Làng vẫn giàu và đẹp đó nhưng giờ đây làng rất yêu nước, rất “tinh thần”.
Ngoài ra, tình yêu ấy còn thể hiện khi gia đình ông xa làng đi tản cư. Ông nhớ: “Ôi nhớ làng, nhớ cái làng quá”. Điều đó không lạ bởi “làng” là nơi thân thương gắn bó, là nơi chôn nhau cắt rốn gắn với những kỉ niệm sâu sắc của người nông dân. Sự gắn bó ấy làm sống dậy tâm hồn của những sự vật tưởng gần như vô tri vô giác.
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.” (Chế Lan Viên)
Điều khiến người đọc trân trọng và cảm phục đó chính là lòng yêu nước nồng nàn. Mặc dù rất muốn cùng anh em ở lại giữ ngôi làng thân thuộc nhưng vì chính sách của cụ Hồ, ông Hai đành phải làm theo và tự nhủ “tản cư cũng là kháng chiến”. Có thể thấy, ông Hai và những người có suy nghĩ như ông đều tin rằng bản thân mình tuân theo điều lệnh cũng chỉ để phục vụ cho việc kháng chiến diễn ra suôn sẻ. Ấy là một cách nghĩ đơn giản nhưng có lí, có tình. Ở nơi xa quê hương, hình ảnh một ông lão đứng ngóng chờ nghe tin tức kháng chiến thật dễ mến. Mỗi khi có tin báo thắng lợi từ đài phát thanh “ruột gan ông như múa cả lên”, lúc ấy, ông Hai rất vui và hòa cùng tiếng reo với mọi người. Tình yêu làng của ông Hai cũng là tình yêu của biết bao nhiêu con người Việt Nam trong kháng chiến. Chính tình yêu ấy là động lực thôi thúc họ giữ đất, giữ làng, giữ nét văn hóa cổ truyền của dân tộc.
Tình yêu làng của nhân vật được nhà văn đặt trong tình cảnh éo le đó là khi ông hay tin làng Chợ Dầu “Việt gian theo Tây”. Nghe tin sét đánh ấy, ông Hai bàng hoàng: “cổ ông nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân … giọng lạc hẳn đi”. Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Cái tin ấy được những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Sự đau đớn thể hiện rõ qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói của ông lão. Không đau đớn và bàng hoàng sao được vì sâu thẳm trong con tim ông làng Chợ Dầu là làng anh hùng, làng của kháng chiến và cách mạng. Thế mà giờ đây, tất cả niềm tin, hi vọng, niềm tự hào đã hoàn toàn sụp đổ trong ông. Vì vậy mà trên đường về nhà “ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi”, ông xấu hổ không dám nhìn ai, ông tự vấn lương tâm của chính mình. Còn gì chua chát, đau đớn hơn khi giọng nói của người đàn bà cho con bú vẳng vọng theo: “Cha mẹ tiên sư chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn tha. Còn cái giống Việt gian bán nước chỉ cho mỗi đứa một nhát.” Tình yêu làng bị sụp đổ, tình cảm của ông bị tổn thương. Và chỉ có tình yêu sâu nặng với quê hương của mình, con người ta mới thấy nỗi đau đớn ấy mà ông Hai là một ví dụ điển hình. Còn gì đớn đau hơn khi lòng tự tôn của mình lại bị một sự thật bẽ bàng làm cho sụp đổ. Còn gì đớn đau bằng cái nỗi đau về nơi mình luôn tự hào lại là nơi mình phải hổ thẹn?
Sự uất ức đến căm giận theo đuổi ông mãi khi về tận nhà. Lúc ấy, nước mắt ông lão giàn ra, ông rít lên những tiếng kêu đau đớn, nhục nhã. Đồng cảm với nhân vật ấy, người đọc như cảm nhận sự đau đớn, hổ thẹn và uất ức theo từng cử chỉ, từng hành động của ông. Có lẽ đây là đoạn miêu tả nội tâm độc đáo nhất, thành công nhất của nhà văn. “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Nghệ thuật độc thoại nội tâm diễn tả cụ thể những câu hỏi giằng xé trong đầu ông Hai. Nếu không yêu làng đến thế thì ông không đau đớn, tủi nhục đến vậy. Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng, ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Niềm tin, nỗi ngờ vực giằng xé trong ông. Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy”. Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”. Tác giả đã để cho nhân vật trải qua từng cung bậc tâm lí, đẩy lên cao trào rồi bật ngược như vỡ òa ở phần sau. Ngẫm kĩ, ta thấy đối với người nông dân chất phác, tay lấm chân bùn thì cái tin làng theo giặc quả thật là cú sốc to lớn, là điều đau đớn và nặng nề mà họ phải chịu đựng.
Từ đau đớn, nhục nhã, tâm trạng ông Hai chuyển sang lo lắng, sợ hãi: “Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng … Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít.”. Nỗi ám ảnh, day dứt nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông. Ông cảm thấy như mình mang nỗi nhục của tên bán nước Việt gian theo Tây. Từ chỗ một con người sống cởi mở, niềm nở, ông trở thành người khép nép, lo lắng.
Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian. Ông đau khổ không phải vì bị đuổi đi mà đau khổ vì lí do bị đuổi. Có lúc ông lại nghĩ đến việc về lại làng nhưng lại nghĩ: “Về làm gì cái làng ấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ.”, là cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin về Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt. Đó là cả một nhận thức lớn trong tâm hồn của người nông dân. Với một người chỉ qua lớp bình dân học vụ, chỉ biết vài con chữ nhưng mỗi sáng vẫn đọc to từng chữ trên báo, vẫn hòa cùng mọi người bàn tán về tình hình, ta thấy tinh thần ấy thật đáng quý.
Thật khó để ông đi đến lựa chọn: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Câu nói ấy thể hiện tấm lòng son sắc của ông dành cho quê hương, đất nước, qua đó ông đưa ra quyết định, thà không quay về làng cho thấy sự kiên quyết trong cách nghĩ, cách sống của ông Hai. Niềm mơ ước lớn lao nhất của ông chính là được quay về làng thăm lại anh em, đồng chí. Vậy mà giờ đây, ông không những buộc phải bỏ làng mà còn thù làng. Chắc chắn, để đi đến quyết định này, nhân vật cũng khổ tâm và đau đớn hơn cả. Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương. Bởi thế mà ông càng xót xa, đau đớn. Người nông dân trong văn của Kim Lân là như thế, yêu ghét rõ ràng, rạch ròi.
Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ. Ông Hai trò chuyện với đứa con út (thằng cu Húc), giúp ông bày tỏ tình yêu sâu nặng với làng Chợ Dầu (nhà ta ở làng Chợ Dầu), bày tỏ tấm lòng thủy chung son sắt với kháng chiến, với Cụ Hồ (chết thì chết có bao giờ dám đơn sai). Đó là một cuộc trò chuyện đầy xúc động. Nỗi nhớ quê, yêu quê, nỗi đau đớn khi nghe tin quê hương theo giặc cứ chồng chéo đan xen trong lòng ông lão. Nhưng trong ông vẫn cháy lên một niềm tin tưởng sắt đá, tin tưởng vào Cụ Hồ, tin tưởng vào cuộc kháng chiến của dân tộc. Niềm tin ấy đã phần nào giúp ông có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn này. Dường như ông Hai đang nói chuyện với chính mình, đang giãi bày với lòng mình và cũng như đang tự nhắc nhở: hãy luôn “Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Đau khổ tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt với cuộc kháng chiến thì vẫn không hề thay đổi.
Cuối truyện, gương mặt buồn thiu ngày nào bỗng vui mừng, rạng rỡ hẳn lên. Lúc ông Hai nghe tin cải chính làng không theo giặc, đi đến đâu ông cũng bô bô: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Toàn là sai sự mục đích cả. Láo. Láo hết”. Hành động thì “múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người”. Thật ngạc nhiên khi nhà cửa ông bị đốt, khi ngôi làng thân thương của ông bị đốt, ông lại tỏ vẻ vui mừng, đi khoe với mọi người sự mất mát ấy. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc, thậm chí còn rất sung sướng, hạnh phúc. Phải chăng, niềm hạnh phúc to lớn hơn đằng sau ấy là một tấm lòng yêu nước trong sạch, kiên định theo chính sách của cụ Hồ?
Ông lấy làm vui mừng trước sự mất mát ấy vì cớ gì? Ông khoe nhà mình bị đốt sạch, đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc. Bởi lẽ, trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng Chợ Dầu anh dũng kháng chiến. Đó là một niềm vui kỳ lạ, thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng, yêu nước, tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Đối với những nông dân thật thà, chất phác thì họ thà hi sinh những ruộng nương, nhà cửa chứ nhất định không chịu làm nô lệ, không chịu cảnh mất nước.
Nhà thơ Anh Byron đã từng viết: “Kẻ nào không yêu quê hương, đất nước thì họ chẳng có thể yêu gì cả”. Tinh thần yêu nước của ông Hai đã bừng sáng cao hơn cả tình yêu ngôi làng thân thương của mình. Sự nâng cao tình cảm ấy là nét đáng quý trong tâm hồn của nhân vật – một con người yêu nước, yêu làng.Tác phẩm khép lại nhưng tinh thần, vẻ đẹp của nhân vật ông Hai, của người nông dân thì để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên. Ông đại diện cho vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: Yêu làng, yêu đất nước và gắn bó với kháng chiến. Bởi vậy mà truyện ngắn “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Kim Lân đã thật khéo léo xây dựng hình tượng nhân vật, một lão nông dân nghèo khổ nhưng tình cảm mà ông dành cho làng, cho nước thì vô cùng sâu đậm, nồng nàn. Ông Hai là biểu tượng cho người nông dân trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp kiên định và một lòng yêu nước tha thiết. Sự thành công của truyện có lẽ do sự am hiểu gần gũi giữa nhà văn và đời sống nông thôn Việt Nam. Đi từ cách nghĩ đến hành động, những màn đánh vào tâm lí người đọc qua những lời lẽ của nhân vật làm cho tác phẩm dễ hiểu và dễ đồng cảm nơi độc giả. Khi đọc Làng, ít nhiều sẽ có người tin rằng đó phải là một nhân vật ông Hai đời thường bước vào trang văn của Kim Lân không phải là truyện ở dạng hư cấu. Nét tạo hình và miêu tả tâm lí được xây dựng một cách đặc sắc. Tác giả để nhân vật yêu làng, làm bước đòn bẩy để bật lên tinh thần yêu nước mạnh mẽ, nồng nàn. Nghệ thuật đòn bẩy đã được cài sẵn khéo léo cộng với cách dẫn dắt câu chuyện tự nhiên, giọng văn giản dị đã tạo nên nét nghệ thuật hấp dẫn cho tác phẩm.
Tóm lại, bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và cách xây dựng tình huống truyện hợp lí, kết hợp vài yếu tố bất ngờ, nhà văn Kim Lân đã kể một cách trọn vẹn câu chuyện về tình hình làng quê và tâm hồn nông dân Việt Nam trong thời buổi kháng chiến đầy khó khăn. Qua tác phẩm Làng nói chung và nhân vật ông Hai nói riêng, ta thấy tình yêu làng thống nhất cùng với tình yêu quê hương đất nước. Đồng thời, ngay cả bản thân tác phẩm còn gửi đến người đọc một thông điệp sâu sắc về lẽ sống cao đẹp, một lẽ sống mà ngay khi con người còn tồn tại trên thế gian này, hãy biết yêu thương nơi mình sinh ra và lớn lên, hãy biết trân trọng và luôn tin tưởng về một tương lai tươi sáng…



Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

Phân tích đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích



Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày. (Tố Hữu – Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Phải! Tiếng thơ “ai động đất trời” ấy chính là một nỗi sầu, một nỗi đau không bao giờ nhạt phai theo năm tháng của dòng sông thời gian đều đặn chảy. Nhắc đến Truyện Kiều – kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du – cũng là nhắc đến “tiếng thương”, tiếng kêu không chỉ cho “phận đàn bà” mà còn cho mọi kiếp bất hạnh, không phải cho một đời mà cho đến “nghìn năm sau” và cho “muôn đời”. Và khi đọc trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, những độc giả không thể ngăn được dòng lệ trước bi kịch hết sức xót xa của cuộc đời Kiều.
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là dài 22 câu để hiện tâm trạng của nhân vật trong một hoàn cảnh đặc biệt. Khi đưa Kiều ra ở riêng tại lầu Ngưng Bích, Tú Bà chỉ muốn giam lỏng nàng để rồi sẽ thực hiện những âm mưu khác thâm độc hơn. Có những câu thơ rất hay vịnh về nàng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.
Một mình đối diện với mình
Mênh mông trăng gió vô tình thoảng qua
Mong manh như một nhành hoa
Ầm ầm tiếng sóng biết là về đâu?
Chưa đi đến thuở bạc đầu
Mà sao như đã nhuốm màu hư vô?
Đoạn trích chính là những dòng viết thể hiện tâm tư, nỗi niềm của nàng Kiều trong những ngày tháng ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" dựng lên cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều một mình bơ vơ nơi xứ người, đồng thời qua đoạn trích, người đọc thấy được bút pháp "tả cảnh ngụ tình" độc đáo, đạt tới trình độ điêu luyện bậc thầy của thiên tài văn học Nguyễn Du.
Nguyễn Du đã tái hiện trước mắt người đọc sự mênh mông của cảnh trí và tâm trạng cô đơn của nhân vật:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Ngay câu thơ mở đầu: "Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng thương của Kiều. Hai từ “khóa xuân” là sự tiếp tục ý của câu thơ trước “Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non”. Chính hai chữ này đã cho thấy tâm địa của Tú Bà trong việc để Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là giam lỏng nàng. Vậy là tuổi thanh xuân của nàng Kiều bị giam hãm, khóa kín trong cấm cung và không được giao tiếp với bên ngoài. Vì thế, lầu Ngưng Bích như là nhà tù giam lỏng cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa mà nàng Kiều phải chịu đựng. Kiều phải trải qua những ngày tháng sống ở lầu Ngưng Bích với một nỗi cô đơn, trơ trọi vì từ nơi ở nhìn ra là một cảnh trí bao la, mênh mông đến vô cùng.
Chính cái lầu Ngưng Bích xuất hiện chơi vơi giữa không gian mênh mang trời nước cũng đang giam giữ một thân phận cô đơn, trơ trọi không tìm đâu được một người nào có thể bầu bạn, sẻ chia. Nguyễn Du đã đặt Kiều trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cô đơn, trơ trọi giữa một không gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát". Đứng trên lầu mà ngước mắt lên trời cao, Kiều chỉ thấy "non xa" và "tấm trăng gần". Nhìn xuống mặt đất chỉ thấy khoảng không trống vắng, xa xa là những con sóng lượn, những bãi cát dài phẳng lặng nối tiếp nhau, dưới ánh nắng của buổi chiều tà, bãi cát như trở nên lấp lánh giống như những bụi hồng. Cảnh thật đẹp, thơ mộng, lãng mạn nhưng đượm buồn. Các hình ảnh mang tính ước lệ như “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” xuất hiện trong đoạn thơ dường như cũng góp sức để làm cho không gian trở nên mênh mông hơn, rợn ngợp hơn, qua đó cũng góp phần diễn tả nỗi cô đơn, sự bơ vơ của người con gái một thân một mình trong ngôi lầu vắng lặng.Bởi xung quanh Kiều, không hề có một chút bóng dáng sự sống của con người. Vì thế, từ “xa trông” như miêu tả cái nhìn xa xăm của Kiều, nàng đang cố gắng kiếm tìm một chút bóng dáng, sự sống xung quanh. Nhưng tuyệt nhiên chỉ là một không gian vắng lặng, tĩnh tại, không có chút động nhỏ bé nào đó xung quanh mình. Ẩn sau ánh mắt nhìn "xa trông" như đang trông mong, ngóng chờ ấy là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng trước không gian trống trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên thất vọng, cô đơn hơn mà thôi. Không chỉ được thể hiện ở mặt không gian mà bức tranh thiên nhiên còn được khắc họa trên cả phương diện thời gian.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
   Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và duyên phận của mình. Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hổ là vì bị Mã Giám Sinh lừa vào lầu xanh, còn nàng cảm thấy tủi thẹn là vì cảm thấy không còn xứng đáng với tình cảm mà Kim Trọng mong chờ. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự cô đơn, đơn điệu, nhàm chán khi mà ở đó Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình, sớm thì làm bạn với mây, tối thì lại chỉ biết trò chuyện với bóng đèn. Kiều thực sự đã rơi vào hoàn cảnh cô đơn đến mức như tuyệt đối. Vì thế tâm trạng của Kiều mới chia đôi thành hai ngả: “nửa tình – nửa cảnh như chia tấm lòng”. Cảnh có đẹp đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nào khỏa lấp đi tâm trạng “bẽ bàng” của nàng.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với những từ ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm, Nguyễn Du đã phác họa được khung cảnh lầu Ngưng Bích rất rộng lớn, mênh mông và tuyệt nhiên không có sự sống của con người. Quang cảnh hiện lên một cách đa chiều; theo chiều cao, chiều xa và chiều rộng dưới tầm mắt nhỏ bé của Thúy Kiều đã nói lên cụ thể tình cảnh của nàng: cô độc và không một bóng người.
Ngồi một mình ở nơi vắng lặng và đối diện với một không gian mênh mông, bao la như thế, có lẽ con người dễ nhớ về những điều thân thuộc như là người thân, gia đình, Kiều cũng không ngoại lệ. Hiện hữu trong tâm trí của Kiều lúc này, trước hết là hình ảnh của Kim Trọng. Nàng đau đáu vì có thể chàng Kim vẫn ngày ngày trông đợi tin nàng:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tinh sương luống những rày trông mai chờ.
Không chỉ vậy, Kiều còn bộc lộ tấm lòng son sắt thủy chung từ tận đáy lòng của mình:
“Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Khi để cho Thúy Kiều nhớ đến Kim Trọng trước nỗi nhớ về cha mẹ, Nguyễn Du đã cho thấy sự kế thừa đầy sáng tạo với cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện”. Trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả đã để Kiều nhớ về cha mẹ trước và Nguyễn Du đã thay đổi một cách sáng tạo. Nói sáng tạo là vì dù sao đi nữa chữ hiếu với cha mẹ, nàng phần nào đã thể hiện thông qua quyết định bán mình để đổi lấy sự bình yên cho gia đình…Còn với Kim Trọng, nàng vẫn chưa một lần nói lời tạ từ nên Kiều vô cùng đau xót về điều đó. Không chỉ vậy, khi để cho Kiều hướng nỗi nhớ về Kim Trọng, dường như nhà thơ như muốn thể hiện tâm tư trĩu nặng của nàng Kiều khi đã không giữ trọn lời thề về nghĩa tình trăm năm vàng đá cùng chàng Kim.
Nhớ đến Kim Trọng, nàng dùng từ “tưởng”. “Tưởng” gợi một nỗi nhớ da diết, luôn có hình bóng sự vật mình nhung nhớ trong tâm thức. Từ “tưởng” cho thấy tình yêu tha thiết của Thúy Kiều đối với chàng Kim, đến mức hình bóng của chàng luôn có trong nàng. Có lẽ vì mối tình ấy quá đẹp: “dưới nguyệt chén đồng”. Trong quan niệm của người xưa, lời thề nguyền trước trời đất là điều thiêng liêng và cao cả vô cùng. Kiều nhớ về “chén đồng” tức cũng đang thể hiện sự dằn vặt vì không thể cùng người thương thực hiện được lời thề ước ngày xưa. Nàng nhớ về lời hẹn ước cũng là cách mà Kiều bộc lộ sự đau đớn cho cảnh ngộ ngang trái của mình đã khiến nàng phải đưa ra quyết định khó khăn đến vậy. Nhớ đến Kim Trọng, nàng còn thấy xấu hổ và tự trách mình. Nàng nghĩ rằng chàng Kim không biết nàng gặp nạn, còn đang “rày trông mai chờ” tin nàng bên một “góc bể bơ vơ” nào đó. Nàng tự day dứt vì đã khiến người yêu trông mong mình một cách vô ích như vậy chăng? Nàng rât hổ thẹn khi giờ đây phải ở chốn “lầu xanh”, làm sao có thể hẹn ước trăm năm, chung thủy son sắt với chàng Kim “tài mạo tót vào”? Kiều chỉ có thể gửi đến chàng Kim lời tâm sự của mình từ phương xa, rằng tấm lòng nhớ thương Kim Trọng nàng vẫn không lúc nào nguôi quên. Nàng đã tự bạch qua câu hỏi tu từ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Câu thơ như một lời khẳng định về tấm lòng son sắt, thủy chung của Kiều đối với Kim Trọng dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm lòng son ấy mãi vẹn nguyên. Ngoài cách hiểu đó, câu thơ cũng có thể nói lên sự ngậm ngùi của Kiều muốn bày tỏ cùng Kim Trọng về việc Trọng có biết nàng đau khổ đến nhường nào vì biết bao giờ tấm lòng son bị vì dập, hoen ố của Kiều mới có thể được gột rửa. Kiều hiện lên là một người rất tình nghĩa và hiểu rõ nhân nghĩa.
Sau nỗi nhớ về người yêu, Kiều nghĩ đến song thân của mình:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Kiều quả là người con có hiếu khi quyết định hi sinh bản thân, chấp nhận bán mình để lấy tiền cứu gia đình. Khi thể hiện nỗi nhớ về cha mẹ, Kiều không hề nói lên sự oán trách hay thở than về những bất hạnh, đau khổ của bản thân mà chỉ cảm thấy ân hận vì nàng không thể làm tròn đạo hiếu, không thể chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ mỗi ngày. Tác giả lại sử dụng tính từ “Xót”. Xót nghĩa là thương, thương đến mức xót xa trong lòng. Không xót xa sao được khi một đứa con hiếu thảo như Kiều lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ đang tựa cửa ngóng chờ con trở về, còn con thì vẫn bóng chim tăm cá, không thấy đâu. Nàng còn lo lắng cho cha mẹ khi mà đã tuổi cao sức yếu không biết có ai chăm sóc cho không, hai em có làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của phận làm con hay không.  Hình ảnh ẩn dụ “cách mấy nắng mưa” tượng trưng cho quãng thời gian dài mà nàng đã xa cha mẹ, nhấn mạnh sự thương nhớ và lo lắng của nàng. Nỗi nhớ và tình cảm của Thúy Kiều dành cho cha mẹ không hề diễn tả chung chung mà đều được cụ thể bằng những hình ảnh gợi sự xót xa đến vô cùng. Nếu như hai câu thơ “Xót người tựa cửa…”-“Quạt nồng ấp lạnh” cho thấy nỗi đau xót, lo âu vì không biết mai này ai sẽ là người thay Kiều chăm lo cha mẹ có sự đủ đầy về vật chất thì hai câu thơ sau “Sân Lai…”-“Có khi…” lại bộc lộ nỗi niềm của Kiều khi nghĩ về niềm vui tinh thần liệu có ai thay Kiều đem lại cho mẹ cha. Kiều đã nhận hết những thiệt thòi về mình nhưng lại luôn cảm thấy sự hi sinh của mình chẳng hề thấm tháp gì với công ơn “chín chữ cao sâu” của cha mẹ. Nàng hiện lên là người con rất đỗi hiếu thảo và thương yêu cha mẹ.
Những suy nghĩ của Kiều giúp ta cảm nhận được biết bao vẻ đẹp đáng quý nơi người con gái ấy. Trong cảnh ngộ bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng được dành sự cảm thương thế nhưng nàng đã không màng tới tình cảnh ngang trái của bản thân để nhớ về Kim Trọng và nghĩ về mẹ cha. Kiều không chỉ là một người con gái thủy chung nghĩa tình trong tình yêu mà còn là một người con có tấm lòng hiếu thảo đáng quý vô cùng. Nguyễn Du đã thành công rực rỡ trong việc lột tả vẻ đẹp tâm hồn. Quả thật đã thành công lớn!
Cả đoạn trích là sự trải dài của tâm trạng nàng Kiều, đến những câu thơ cuối cùng, tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều lại được bộc lộ thật ấn tượng qua những biểu hiện của cảnh vật:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Dường như mối một biểu hiện của cảnh vật đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều. Tâm trạng của nàng là một nỗi buồn bao trùm. Vì buồn nên trông, mà càng trông thì Kiều lại càng buồn. Điệp ngữ “Buồn trông” bốn lần xuất hiện làm tăng sự buồn bã của nàng.Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng tâm tư. Đó là tâm trạng chua xót, ngậm ngùi của nàng khi dự cảm về những dông bão, trắc trở ở tương lai phía trước.
Ở lần đầu, nàng trông thấy:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.”
Không gian chiều hôm gợi sự buồn bã, im ắng, lẻ loi. Cảnh cửa bể đã đến lúc “chiều hôm” mà những con thuyền vẫn còn lênh đênh trên mênh mông sông nước gợi nên thân phận trôi dạt của nhân vật. Như một câu ca dao khác cũng có cảnh này “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”, quả là cảnh làm cho lòng người buồn đi. Cảnh đã buồn, đã sầu thảm, lại xuất hiện cánh buồm “thấp thoáng”, mờ mờ ảo ảo, hư hư thực thực, càng làm tăng thêm sự cô độc của Kiều. Như Bà huyện Thanh Quan đã từng viết “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà”: Trong một không gian hoang vu, bỗng có người và sự vật xuất hiện nhưng chỉ lèo tèo, không rõ mặt thì chỉ càng làm tăng thêm vẻ hoang vu. Ở Thúy Kiều cũng vậy, “cánh buồm” “thấp thoáng” làm nàng thêm cô đơn, buồn tủi.
Sau “cánh buồm”, nàng còn bắt gặp:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
Kiều hướng ánh nhìn của mình về đóa hoa trôi man mác không rõ sẽ dạt về chốn nào thì dường như cũng là lúc nhân vật nhìn về cuộc đời của mình với sự phiêu bạc, không định hướng tương lai. Nàng đang lo lắng về tương lai của chính mình, không biết rồi sẽ trôi dạt đến nơi nao. Có lẽ nàng cũng đã dự cảm về số phận long đong, bạc mệnh của mình. Bởi vì hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi man mác” chính là tượng trưng cho cuộc hành trình phập phồng chông chênh ấy. Một bông hoa nhỏ bé giữa một biển nước mênh mông, thật khó mà đương đầu cho được. Số phận của Kiều phải chăng chính là câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn/ Bảy nổi ba chìm với nước non”. Thật bi thương!
Tiếp theo, nàng nhìn về “nội cỏ”:
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”
Trông về phía cỏ cây, Kiều chỉ thấy hiện lên trong mắt màu rầu rầu buồn đến thê thiết, ngọn cỏ kia vẫn xanh nhưng sao màu xanh ấy lại không khiến nàng phấn chấn mà chỉ đem lại sự ủ rũ, héo úa. Nổi bật lên trên hai câu thơ là một nỗi buồn vô vọng. Lòng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn; nỗi buồn của Kiều như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng. Bằng phép tả cảnh ngụ tình: “nội cỏ rầu rầu”; tác giả đã vẽ nên một nỗi buồn rười rượi. Và vì nàng còn buồn hơn thế nữa nên “chân mây mặt đất” với nàng chỉ là một màu “xanh xanh” đơn điệu. Trong văn học từ xưa tới nay, màu sắc xanh thường khiến chúng ta nghĩ tới màu của sự sống, của sự sinh sôi bất diệt. Nhưng từ “xanh xanh” lại xuất hiện trong câu thơ của Nguyễn Du nên màu sắc ấy biểu trưng cho sự nhạt nhòa, sự chán nản, vô vọng của Kiều trước một khung cảnh thiếu vắng sự sống, cô đơn, và tẻ nhạt. Thiên nhiên ấy gợi ở Kiều nỗi chán ngán, vô vọng, tái tê về cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh không biết kéo dài đến tận bao giờ. Thật là “cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên.” (Chế Lan Viên)
Cuối cùng, nàng chỉ còn thấy sóng gió:
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Kiều nghe thấy vọng lại thanh âm của tiếng sóng ầm ầm. Tiếng sóng như lời đe dọa bao quanh người con gái nhỏ bé như báo trước một tai họa sắp sửa ập đến cuộc đời nàng. Âm thanh “ầm ầm” của tiếng sóng nghe thật kinh hoàng, dữ dội. Đã vậy lại còn “kêu quanh ghế ngồi”, làm sao không khiếp sợ cho được? Nỗi sợ ấy phải chăng là nỗi sợ bùng cháy trong Thúy Kiều? Quả thật là vậy. Trước bao lo lắng, trắc trở về người yêu, gia đình và chính bản thân, nàng đã thực sự tỏ ra sợ hãi. Âm thanh “ầm ầm” vây quanh nàng như nỗi sợ dâng lên kề đầu ngập cổ nàng. Nàng đang run sợ, rối bời vô cùng. Câu thơ kết đoạn là sự hòa tấu sóng biển – sóng đời, không chỉ vang lên tiếng gõ cửa của định mệnh mà còn rung chuyển tiếng gầm gào của hiểm họa muốn hất tung người con gái đơn côi, yếu đuối trên điểm tựa chiếc ghế đời mong manh. Bằng cách khắc họa cảnh vật từ hư đến thực, âm thanh từ tĩnh đến động, đoạn thơ đã cho thấy nỗi buồn lo và sợ hãi như tầng tầng lớp lớp sóng gió đang dâng ngập lòng Kiều.Có thể khẳng định rằng: Đây là một cơn bão táp nội tâm!
Khung cảnh lầu Ngưng Bích khi được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều đều nhuốm sự buồn thương đến kinh sợ từ cảnh vật, đến sắc màu và cả âm thanh. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc sắc về cả nghệ thuật lẫn nội dung. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp từ ngữ đặc sắc và điển tích hòa hợp, Nguyễn Du đã vẽ nên tình cảnh, nỗi nhớ và tâm trạng của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Và đặc biệt là đã bộc lộ những nét đẹp cao quý về tấm lòng hiếu thảo và sự thủy chung trong tình yêu ở nàng.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã cho thấy một bức tranh thiên nhiên liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng – đó là bức tranh tâm cảnh nhuốm màu u buồn, đau đớn. Mỗi nét tưởng tượng trong ngòi bút của tác giả lại phản ánh một mức độ khác nhau trong tâm trạng của nàng Kiều. Đoạn trích đã giúp ta hiểu hơn về tâm hồn của người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh. Kiều ở lầu Ngưng Bích còn giúp người đọc cảm nhận được giá trị nhân văn sâu sắc đồng thời thể hiện tấm lòng nhân hậu, cảm thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.


ĐẠO LÍ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN TRONG BÀI ÁNH TRĂNG CỦA NGUYỄN DUY



Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của dân tộc trong một thời mưa bom bão đạn, từng sống chết gắn bó cùng thiên nhiên, cùng đồng đội tình nghĩa. Rồi khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống hòa bình luôn mang lại cho con người cảm giác thoải mái, yên bình, nhưng cũng thay đổi nhiều thói quen, cách sống mà không phải ai cũng ghi nhớ những gian nan, những nghĩa tình của thời đã qua. Bài thơ Ánh trăng là một lời tâm sự chân thành, là một lời nhắc nhở về ý nghĩa cuộc sống, là một lần “giật mình” trước cái điều vô tình ấy.
Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng của thi ca. Chúng ta có một “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm - Nguyễn Khuyến, có một “bến sông trăng” lãng mạn của Hàn Mặc Tử, có một vầng trăng tri kỉ của thi nhân “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ / Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ “ (Hồ Chí Minh )… Nhưng với Nguyễn Duy, ánh trăng mang một hàm nghĩa mới. Đó là hình ảnh của quá khứ, là nhân dân, là người lính, là lý tưởng chiến đấu… Bài thơ gây ấn tượng bởi lối sáng tạo đặc biệt. Chữ đầu mỗi câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của kỉ niệm?
Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy nên nó mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi thời chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế mà từ hồi về thành phố, quen sống với những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường nhưng sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để tác phẩm.
Mở đầu bài thơ là câu chuyện xảy ra trong quá khứ - lúc người lính còn nhỏ và hồi chiến tranh ở rừng:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ”
Chỉ với bốn câu thơ ngắn của khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện lại những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời người lính. Trong kỷ niệm, trong câu chuyện có đồng, sông, bể, rừng nghĩa là có tất cả những không gian sự vật quen thuộc của đất nước, có mọi thứ của thiên nhiên có thể gắn bó với con người, che chở cho con người, nuôi sống con người. Chữ “hồi” ở câu thứ nhất và câu thứ ba làm cho khổ thơ như có một chỗ dừng chân giữa ranh giới giữa tuổi thơ và lúc trưởng thành, và người chỉ đường dẫn lối chính là ánh trăng. Không phải là vầng trăng bình thường mà là “vầng trăng thành tri kỉ”. “Tri kỉ” nghĩa là vầng trăng và người trở thành đôi bạn tri âm tri kỉ, biết bạn, hiểu bạn như hiểu mình. Hình ảnh đôi bạn tâm giao trăng – người chiến sĩ đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Đó có thể là hình ảnh người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng trong thơ Bác: “Việc quân, việc nước bàn xong/ Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.” (Đối nguyệt); cũng có thể giữa rừng khuya sương muối, trăng làm bạn với người chiến sĩ đứng chờ giặc tới: “Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo.” (Đồng chí – Chính Hữu). Vầng trăng tri kỷ cũng là vầng trăng bạn bè, thủy chung cùng nhau chia sẻ tâm sự.
Không gian bài thơ rộng mở như trải rộng mênh mông “đồng – sông – biển – rừng” theo những thước phim của ký ức “hồi nhỏ - hồi chiến tranh” nhẹ nhàng sâu lắng để khơi gợi những kỷ niệm dạt dào in dấu ấn sâu đậm thành nỡi nhớ. Đến khổ thơ thứ hai là một lời giải vì sao trong quá khứ, trăng và người là tri âm tri kỉ. Bởi vì lúc đó, con người sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó gần gũi với thiên nhiên, hồn nhiên như cành cây ngọn cỏ…
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Những từ “trần trụi”, “hồn nhiên” thật dung dị, gần gũi như tâm hồn của người lính Chính bởi vậy người lính đã có lúc “ngỡ không bao giờ quên – cái vầng trăng tình nghĩa”. Từ vầng trăng tri kỷ giờ đây nó trở thành vầng trăng tình nghĩa. Tuy nhiên, từ “ngỡ” đặt ở đầu câu thứ ba giúp người đọc dự cảm về một điều chẳng lành sẽ xảy ra. Bởi vì “ngỡ” là nghĩ vậy thôi, một lúc nào đó con người sẽ lãng quên.
Quy luật vận động không ngừng nghỉ, sự đời vẫn có những éo le, những điều xảy ra mà người ta không thể nghĩ trước được. Thoắt một cái, mọi sự việc đều đã thay đổi:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
Mọi sự bất đầu chỉ vì mấy tiếng thật đơn giản “Từ hồi về thành phố”. Lại một lần nữa ta bắt gặp từ “hồi”. Hồi ở đây vừa chỉ thời gian (quãng thời gian khi về thành phố) vừa chỉ sự trở về. Về thành phố là về với cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi, là về với cuộc sống hòa bình không bom rơi đạn lạc. Không gian cũng có sự thay đổi. Nếu như hai khổ đầu mở ra một không gian khoáng đạt, mênh mông, tràn ngập thiên nhiên với đồng ruộng, núi rừng. Giữa không gian bao la ấy, trăng và người hồn nhiên, vô tư bầu bạn quấn quít, dễ nhìn thấy nhau và cũng dễ tìm thấy nhau. Nhưng ở đây khi về với thành phố, không gian sống bỗng như bị bó hẹp lại: đâu thấy rừng thấy biển, đâu thấy đồng thấy sông, mà vây quanh người ta là đường phố, nhà cửa san sát, là ánh điện cửa gương, là những tòa nhà cao tầng, những cái ngõ chật hẹp, là căn phòng buyn-đinh ngột ngạt… Con người như bị nhốt lại, bị bó hẹp trong những cái hộp khổng lồ…
Sống trong không gian bé nhỏ ấy, con người không còn “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Người ta cũng chẳng nhớ đến trăng, chẳng cần trăng. Bởi đêm nào thành phố chẳng rực rỡ ánh đèn. Bởi vậy mà “vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”. Giọng điệu thơ có gì đó hờ hững, có gì đó lạnh lùng. Hình như tình cảm “tri kỷ - nghĩa tình” đã bị đẩy vào góc xa thẳm của ký ức, con người đã vội quên đi để hòa nhập trong nhịp điệu cuộc sống mới nơi thành thị. Hình ảnh so sánh là một sự đối lập với tình cảm chân thành của một thời quá khứ “ngỡ không bao giờ quên”. Nếu hồi nhỏ, hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ, vầng trăng là tình nghĩa thì giờ đây nó chỉ là người dưng qua đường. Quan hệ giữa người và trăng đã hoàn toàn thay đổi. Có gì đó phũ phàng, có gì đó nghẹn đắng. Bây giờ giữa vầng trăng và người hoàn toàn xa lạ với nhau, hầu như không quen biết gì nhau. Lời thơ pha chút mỉa mai nhưng chân thành. Câu thơ của Nguyễn Duy chẳng khuyên gì ai, chẳng trách gì ai nhưng hình như đằng sau là hồi chuông, là vị đắng đọng lại trong lòng người về một hiện thực xã hội, về thái độ vô tình của con người trước quá khứ.  
Tuy nhiên như người ta vẫn nói mọi chuyện trong cuộc đời đều không thể lường trước được. Cuộc đời nhiều khi vẫn có những bất thường xảy ra và chuyện bất thường đó đã được nhà thơ kể lại ở khổ thơ tiếp theo:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Hai tiếng “thình lình” mở đầu cho khổ thơ thật đúng lúc. Nhờ có sự thình lình bất thường đó ta mới biết rằng hóa ra cái ánh đèn kia không phải là vĩnh cửu, cái ánh sáng của phòng buyn – đinh kia không là muôn đời. Và hóa ra con người ta cũng có lúc “vội bật tung cửa sổ” để tìm ánh sáng cho mình. Câu thơ này thật có ý nghĩa, bởi đây đâu chỉ là cánh cửa sổ bằng sắt hay bằng gỗ của căn phòng mà đây còn là cánh cửa của tâm hồn, của tình cảm, chính cánh cửa này đang được bật tung. Phải đồng thời bật tung hai cánh cửa số ấy thì mới có được chuyện “đột ngột vầng trăng tròn”. Thực ra đột ngột là dành để chỉ tâm trạng con người chứ không phải trăng chờ người bật tung cửa sổ mới bất ngờ đột ngột xuất hiện. Con người có mở cửa hay không mở cửa thì vầng trăng vẫn cứ chiếu sáng, vẫn luôn tràn đầy như thế. Từ “tròn” ở đây không chỉ là một khái niệm hình học, nó còn là sự tròn đầy trọn vẹn của nghĩa tình.
Chính cái vẻ tròn đầy bất diệt của vầng trăng đã đưa đến cho người lính cảm xúc dâng trào:
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Mặt nhìn mặt”, ấy là mặt người với mặt trăng, nhưng ở đây không phải là cái nhìn “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ cố hương” của Lí Bạch mà là sự đối diện với người tri kỉ, đối diện với chính mình, nhìn lại mặt mình. Một cái nhìn đầy áy náy, xót xa. Nếu như với Lí Bạch, vầng trăng khiến thi sĩ nhớ “cố hương” da diết thì ở đây nhờ nhìn thấy vầng trăng, người lính đã trở về chính mình, nhận ra gốc gác, tìm lại được chính mình. Khi nhìn thấy người bạn tri âm tri kỷ ngày nào, người lính bỗng dâng trào một niềm xúc động ngỡ ngàng. Hai tiếng “rưng rưng” gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm. “rưng rưng” là chưa khóc nhưng nước mắt đang chực trào ra. Nó như cảm xúc mơ hồ của kẻ xa quê lâu ngày đang trên đường trở về làng cũ bỗng thoáng thầy gốc đa đầu làng. Nó như nỗi lòng của đôi bạn thân sau nhiều năm chinh chiến lạc mất tin nhau, nay bỗng gặp nhau đúng trong ngày chiến thắng. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm tư nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu. Điệp ngữ “như là” có tác dụng nhấn mạnh, biểu hiện cảm xúc đến thật dồn dập. Cùng một lúc, cả quá khứ như hiện về, mọi kỷ niệm như được đánh thức. Kỷ niệm thời ấu thơ chơi đùa trên cánh đồng quê, bơi lội trên dòng sông quê,… kỷ niệm lúc trưởng thành ở rừng cùng đồng đội chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, chia sẻ những mất mát đau thương… Đoạn thơ hay nhất ở chất thơ bộc bạch chân thành, hàm súc và biểu cảm, giàu hình tượng dễ đi vào lòng người. Chính sự lan tỏa của ánh trăng đã gợi lại nhưng gì đã qua, đánh thức tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Người lính vui sướng vì gặp lại vầng trăng nhưng cũng thấy ăn năn vì thái độ vô tình lãng quên quá khứ.
Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Khổ cuối của bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.”      
Bốn câu thơ chia thành hai cặp có nhiều hình ảnh đối lập nhau. Cặp câu thứ nhất đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng – nghĩa là cái vẹn nguyên, cái tròn đầy bất diệt với sự vô tình vô cảm của con người. Cặp câu thứ hai đối lập giữa cái “im phăng phắc” của vầng trăng với cái “giật mình” của nhà thơ, của người lính. “Giật mình” vì điều gì? Có lẽ là vì ân hận, giật mình để tự nhắc nhở mình đừng làm kẻ phản bội, đừng làm kẻ vô ơn vô tình. Phải nói hai tiếng giật mình cuối cùng của bài thơ như một tiếng chuông rất khẽ nhưng ngân vang rất xa và đọng lại rất lâu. Như vậy khổ thơ cuối đúng là khổ thơ tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triệt lí trong âm điệu trầm lắng suy tư của tác phẩm. “Trăng cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Đôi khi im lặng lại chính là sự trừng phạt nặng nề nhất. Cũng qua hình ảnh “tròn vành vạnh” và “im phăng phắc” của vầng trăng, tác giả khẳng định một điều, con người có thể vô tình có thể lãng quên nhưng thiên nhiên quá khứ nghĩa tình thì luôn tròn dầy bất diệt.
Từ một câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Còn nhớ năm xưa, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Genève được kí kết, trong buổi chia tay đầy lưu luyến giữa cán bộ về xuôi với đồng bào miền núi nhà thơ Tố Hữu cũng đã tự nhắc nhở mình, khi về với cuộc sống bình yên ở miền xuôi cũng không bao giờ được quên những năm tháng gắn bó cùng đồng bào nơi đây, được đồng bào yêu thương “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, cùng kề vai sát cánh chống giặc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.” (Việt Bắc – Tố Hữu)
Và Ánh trăng cũng là một lời tự nhắc nhở như thế. Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ bởi nó đặt ra vấn đề, thái độ “Uống nước nhớ nguồn” đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình. Trong cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, quay cuồng với danh lợi, tiền tài mà vô tình quên đi những thứ bình dị. Sự lãng quên ấy, sự quay lưng lại với kí ức, với những kỉ niệm là những hành động thật đáng trách, thật đáng lên án. Thiếu tình cảm biết ơn, sống phụ nghĩa quên công, con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm, những kẻ ấy sẽ bị ngưòi đời chê trách, mỉa mai, bị gạt ra ngoài lề xã hội và lương tâm của chính họ sẽ kết tội.
Bài thơ là hồi chuông cảnh tỉnh đối với ai đã đối xử một cách vô ơn bạc nghĩa với những người đã tạo ra thành quả cho mình hưởng thụ. Bài thơ nhắc nhở một lẽ sống tốt đẹp của con người cũng là đạo lí của dân tộc, là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay cho nên thế hệ đi sau cần kế thừa và phát huy. Bởi là con người thì trước hết phải biết sống có đạo đức nhân nghĩa, thủy chung.
Tóm lại, bài thơ Ánh trăng với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Đọc bài thơ của Nguyễn Duy hẳn mỗi chúng ta cũng “giật mình” như thế.
Thạc sỹ Nguyễn Huyền Nga (Giáo viên Trường Quốc tế Á Châu)