Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Nào có sá chi đâu ngày trở về.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
Khúc hát quen thuộc từ xa chợt vọng lại gợi
trong lòng chúng ta biết bao suy tưởng. Chúng ta như được sống lại một thời hào
hùng của dân tộc theo tiếng hát sôi nổi trẻ trung và cũng bình dị như cuộc đời
người lính. Không biết đã có bao nhiêu bài thơ nói về họ - những chàng Thạch
Sanh của thế kỉ hai mươi. Tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ cứu nước là Bài
thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
Phạm Tiến
Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng
thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể
hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người
lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ Phạm
Tiến Duật có một giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch
mà sâu sắc.
Bài thơ về tiểu đội xe không
kính được sáng tác trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn
ra rất gay go, ác liệt. Từ khắp các giảng đường đại học, hàng ngàn sinh viên đã
gác bút nghiên để lên đường đánh giặc, và điểm nóng lúc đó là tuyến đường Trường
Sơn – con đường huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến. Ra đời
trong hoàn cảnh ấy, bài thơ với âm điệu hào hùng, khỏe khoắn đã thực sự trở
thành hồi kèn xung trận, trở thành tiếng hát quyết thắng của tuổi trẻ Việt Nam
thời kì chống Mĩ. Cảm hứng từ những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ
chiến sĩ khắc họa thành công chân dung người chiến sĩ lái xe: ung dung tự tại,
lạc quan sôi nổi, bất chấp mọi khó khăn gian khổ, tình đồng chí đồng đội gắn bó
tình yêu đất nước thiết tha…
Xưa
nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “mĩ lệ hóa”,
“lãng mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Người đọc đã
bắt gặp chiếc xe tam mã trong thơ Pus-kin, con tàu trong “Tiếng hát con tàu” của
Chế Lan Viên, đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ cùng tên của Huy Cận. Ở bài thơ
này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiết rất thực.
Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là
trong địa hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng. Ấy thế mà chuyện
“xe không kính” lại là môt thực tế, là hình ảnh thường gặp trên tuyến đường Trường
Sơn.
Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải
thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.”
Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải
tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai lái xe dũng cảm. Chất thơ của câu
thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ. Bằng
những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động
từ mạnh “giật”, “rung”. Tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của
những chiếc xe. Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên biến dạng
“không có kính”, “không có đèn”, “không có mui xe”, “thùng xe có xước”.
Từ đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện
thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải
trải qua.
Hình ảnh
những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh, song phải có một hồn
thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàn như Phạm Tiến Duật mới phát hiện ra
được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ ca thời chống
Mĩ.
Hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi
rõ hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn. Thiếu đi những điều kiện,
phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để người lính lái xe bộc lộ những
phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ, đặc biệt là lòng dũng cảm,
tinh thần bất chấp gian khổ khó khăn.
Vẻ đẹp của người lính lái xe trước hết thể hiện
ở tư thế hiên ngang, ung dung, đường hoàng, tự tin và tâm hồn lãng mạn, lạc
quan, yêu đời:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời,nhìn thẳng.”
Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được
đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc
đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai đã nhấn mạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự
tin của người lính lái xe. Bất chấp mọi trở ngại, gian khổ, mặc kệ những hiểm
nguy, người lính vẫn vững vàng ngồi vào buồng lái để làm nhiệm vụ. Từ chiếc xe
không kính, người chiến sĩ đã quan sát cảnh vật bên ngoài. Cái nhìn của các anh
là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”, “nhìn trời”, vừa trực diện, tập
trung cao độ “nhìn thẳng”. Các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh
mà không hề run sợ, né tránh – một bản lĩnh vững vàng. Mặc cho bom đạn gào thét, anh vẫn cứ tiến lên.
Anh chiến sĩ lái xe thật dũng cảm, hào hùng biết bao.
Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có
những cảm nhận rất riêng khi được tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài:
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.”
Sau tay lái của chiếc xe không có kính chắn
gió nên các yếu tố về thiên nhiên, chướng ngại vật rơi rụng, quăng ném, va đạp
vào trong buồng lái. Song, quan trọng hơn là các anh có được cảm giác như bay
lên, hòa mình với thiên nhiên rồi được tự do giao cảm, chiêm ngưỡng thế giới
bên ngoài. Điều này được thể hiện ở nhịp thơ đều đặn, trôi chảy như xe lăn với
việc vận dụng linh hoạt điệp ngữ “thấy” và phép liệt kê. Có rất nhiều cảm
giác thú vị đến với người lính trên những chiếc xe không có kính. Các
hình ảnh “con đường”, “sao trời”, “cánh chim”… diễn tả rất cụ thể cảm
giác của những người lính khi được lái những chiếc xe không kính. Khi xe chạy
trên đường bằng, tốc độ xe chạy đi nhanh, giữa các anh với con đường dường như
không còn khoảng cách, chính vì thế, các anh mới có cảm giác con đường đang chạy
thẳng vào tim. Và cái cảm giác thú vị khi xe chạy vào ban đêm, được “thấy
sao trời” và khi đi qua những đoạn đường cua dốc thì những cánh chim như đột
ngột “ùa vào buồng lái”. Thiên nhiên, vạn vật dường như cũng bay theo ra
chiến trường. Nhịp thơ trở nên nhanh gấp, sôi nổi thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu
thiên nhiên, sự lạc quan của người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ. Tất
cả điều này đã giúp người đọc cảm nhận được ở các anh nét hào hoa, kiêu bạc,
lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi. Tất cả là hiện thực nhưng qua cảm
nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn.
Một vẻ đẹp nữa làm nên bức chân dung tinh thần
của người lính trong bài thơ chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó
khăn, nguy hiểm:
“Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.”
Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với
giọng điệu thản nhiên, ngang tàn hóm hỉnh. Cấu trúc: “không có…”; “ừ thì…”,
“chưa cần” được lặp đi lặp lại, các từ ngữ “phì phèo”, “cười ha ha”,
“mau khô thôi”… làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên một
cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu. Cài tài của Phạm Tiến
Duật trong đoạn thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp
nhận thì hai câu sau nói lên tinh thần vượt lên để chiến thắng hoàn cảnh của
người lính lái xe trong chiến tranh ác liệt. Xe không kính nên “bụi phun tóc
trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe không có kính nên “ướt áo”,
“mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên. Trước mọi khó khăn,
nguy hiểm, các anh vẫn “cười” rồi chẳng cần bận tâm, lo lắng, các anh sẵn
sàng chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó là điều tất yếu. Các anh lấy cái
bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của
chiến trường sinh tử gian khổ, ác liệt. Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được
phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ.
Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc
quan, niêm vui sôi nổi, yêu đời. Thật đáng yêu và đáng tự hào biết bao!
Sâu sắc hơn,bằng ống kính điện ảnh của người
nghệ sĩ, nhà thơ đã ghi lại những khoảnh khắc đẹp đẽ thể hiện tình đồng chí đồng
đội của những người lính lái xe không kính:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”
Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên
tiểu đội xe không kính. Những chiếc xe từ khắp mọi miền Tổ quốc về đây họp
thành tiểu đội. Hình ảnh những chiếc xe không kính , xấu xí, tràn trụi xếp hàng
tập trung thành tiểu đội. Một hình ảnh mang vẻ đẹp lãng mạn nhưng gai góc. Những
chiếc xe “họp” mặt chính là hình ảnh của những anh lính lái xe cùng quây quần
bên nhau để trò chuyện, chia sẻ những chuyện vui buồn của đời lính. Chỉ cần nhìn thấy “bạn bè dọc đường đi tới” là
niềm vui, hạnh phúc dâng trào trong tâm hồn họ. Xe không kính lại trở thành điều
kiện thuận lợi để các anh thể hiện tình cảm. Cái “bắt tay” thật đặc biệt
“Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Đây là cái bắt tay thân tình của những
con người cùng chung chí hướng, cái bắt tay truyền lửa – ngọn lửa soi sáng những
chặng đường khốc liệt được thắp lên từ triệu trái tim chiến sĩ tràn đầy nhiệt
tình cách mạng. Những con người vốn “xa lạ”, gặp nhau nơi chiến trường,
đồng điệu nhau ở tình yêu Tổ quốc và trở thành đồng đội, “đồng chí‘. Họ kề vai,
sát cánh bên nhau không chỉ trong những giờ phút khốc liệt băng qua mưa bom bão
đạn, đối mặt với kẻ thù, cận kề cái chết mà cả trong những phút giây ấm áp,
thân tình. Có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí”: “Thương
nhau tay nắm lấy bàn tay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn. Đó là quá
trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến
trường kì của dân tộc.
Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một
cách ấm áp, giản dị qua những giờ phút sinh hoạt của họ:
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm.”
Gắn bó trong chiến đấu, họ càng gắn bó trong đời
thường. Sau những phút nghỉ ngơi thoáng chốc và bữa cơm hội ngộ, những người
lính lái xe đã xích lại thành gia đình: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.
Cách định nghĩa về gia đình thật lính, thật tếu hóm mà thật chân tình sâu sắc.
Đó là gia đình của những người lính cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu. Hình
ảnh “bếp Hoàng Cầm”, “võng mắc chông chênh” là hiện thực của cuộc sống
chiến trường được đưa vào thơ tự nhiên như hơi thở núi rừng. Hồn thơ cứ tự nó
được khởi nguồn từ chính những hiện thực bình dị ấy. Nhưng nhịp điệu thơ lại được
tạo nên bởi nhịp võng đưa, bởi nhịp bánh xe quay đểu. Từ láy “chông chênh”
không chỉ mang lại vần điệu cho câu thơ mà còn có ý nghĩa gợi hình sâu sắc. Đó
là hình ảnh thực của con đường xe chạy hay là những khó khăn trở ngại, những hiểm
nguy mà người lính phải đối mặt trong chiến tranh? Nhưng khí phách, ý chí chiến
đấu của những người lính ấy vẫn luôn vững vàng, kiên định. Ngọn lửa trái tim và
tình đồng chí – tình cảm của những con người trong cùng “gia đình” đã nâng những
bước chân lạc quan, phơi phới, ngân lên thành câu hát, băng qua “bom giật
bom rung” để “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Điệp từ “lại đi”
lặp lại hai lần vừa thể hiện nhịp sống, chiến đấu của tiểu đội xe không kính vừa
khẳng định tinh thần, ý chí cách mạng kiên định vững vàng không sức mạnh bạo
tàn nào có thể ngăn nổi của những người lính. Dường như chính những bước chân ấy
đã nhuộm lên màu xanh của bầu trời – màu xanh chứa chan hi vọng gợi lên tâm hồn
lạc quan, sức trẻ, khát vọng và niềm tin chiến thắng của người lính Trường Sơn.
Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó
khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu.Sức mạnh của người lính thời
đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại. Họ là hiện thân của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình tượng đẹp nhất của thế kỷ “Như Thạch Sanh
của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu).
Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người
lính, đó là lòng yêu nước, ý chí chiến đấu giải phòng miền Nam:
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chủ cần trong xe có một trái tim.”
Giờ đây những chiếc xe không chỉ mất kính mà lại
không đèn, không mui, thùng xe có xước. Điệp ngữ “ không có” đi cùng với
phép liệt kê “ kính , đèn , mui xe, thùng xe” càng khắc họa tô đậm rõ nét, chân thực sự tàn
phá, hủy hoại khủng khiếp của chiến tranh. Chiếc xe đã biến dạng hoàn toàn. Người
lính gặp chất chồng khó khăn. Sự gian khổ nơi chiến trường ngày càng nâng lên gấp
bội lần nhưng không thể làm chùn bước những đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm tiến
về phía trước.
Nhưng nguyên nhân nào mà những chiếc xe tàn dạng
ấy vẫn băng băng chạy như vũ bào? Nhà thơ đã lí giải: “Chỉ cần trong xe có một
trái tim”. Câu thơ dồn dập cứng cáp hẳn lên như nhịp chạy của những chiếc
xe không kính. Từ gợi tả “vẫn” cho thấy ý chí, quyết tâm của người lính,
không hề lung lay trước sự hiên ngang ấy. Từ hàng loạt những cái “không có”
ở trên, nhà thơ khẳng định một cái có, đó là “một trái tim”. “Trái
tim” là một hoán dụ nghệ thuật tu từ chỉ người chiến sĩ lái xe Trường Sơn
năm xưa. Trái tim của họ đau xót trước cảnh nhân dân miền Nam sống trong khói
bom thuốc súng, đất nước bị chia cắt thành hai miền. Trái tim ấy dào dạt
tình yêu Tổ quốc như máu thịt, như mẹcha, như vợ như chồng… Trái tim ấy luôn
luôn sục sôi căm thù giặc Mỹ bạo tàn. Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi
thúc những người chiến sĩ lái xe khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước. Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một cách duy nhất: vững vàng tay
lái, cầm chắc vô lăng. Vì thế thử thách ngày càng tăng nhưng tốc độ và hướng đi
không hề thay đổi. Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người
về chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là
vũ khí mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể coi
câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ. Nó là nhãn tự, là con mắt thơ, bật
sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ.
Giọng
thơ ngang tàng, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả
(những chàng trai lái xe trên những chiếc xe không kính). Giọng điệu ấy làm cho
lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường ngày nhưng vẫn thú
vị và giàu chất thơ. Việc kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài
thơ có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động. Những yếu tố về ngôn ngữ
và giọng điệu bài thơ đã góp phần trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ
lái xe trên tuyến đường Trường Sơn một cách chân thực và sinh động. Bài thơ không
chỉ nói về tiểu đội xe không kính, nó còn phản ánh cả khí thế quyết tâm giải
phóng miền Nam của toàn quân và toàn dân ta, khẳng định rằng ý chí của con người
mạnh hơn cả sắt thép.
Qua bài thơ, tác giả đã xây dựng hình tượng
người lính lái xe trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là những con người anh
hùng, dũng cảm, lạc quan, yêu đời, coi thương gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ,
biết hi sinh bản thân mình vì nghĩa lớn, vì nhân dân, vì đất nước:
Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhơ lưng đèo.”
Người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết
hợp truyền thống và hiện đại. Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn gian
khổ, hào hùng.
Nguồn: St &
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét